Hiển thị các bài đăng có nhãn tai chinh ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tai chinh ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

[Free download] Quản lý và Sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và Giải pháp

Quản lý và Sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và Giải pháp


 Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và  của khu vực Đông Nam Á nói riêng, việc hỗ trợ cho các nước đang và chậm phát triển để phát triển nền kinh tế của các nước này là một vấn đề mang tính toàn cầu. Các quốc gia phát triển đã có những chính sách và biện pháp hỗ trợ về vốn, kỹ thuật cho các nước đang và kém phát triển, trong đó có nguồn vốn Hỗ trợ Phát triển Chính thức (nguồn vốn ODA) được các nước phát triển cung cấp nhiều nhất vì mục tiêu của ODA là nhằm tạo điều kiện cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của các nước đang và kém phát triển. Việc thành lập các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB-World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF-International Monetary Fund), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB-Asian Development Bank) và các tổ chức thuộc hệ thống của Liên Hiệp Quốc đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng loại hình viện trợ cho các nước đang và chậm phát triển và thực hiện tương đối khách quan hơn sự giúp đỡ giữa các nước với nhau. 

                         luan van Quản lý và Sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và Giải pháp

 Đối với Việt Nam, ngoại trừ các năm bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực thì các năm còn lại, tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế luôn ở tốc độ cao. Từ năm 2000 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng GDP luôn diễn ra theo xu hướng tăng dần (Năm 2000: 6,79%; Năm 2001: 6,89%; Năm 2002: 7,04%; Năm 2003: 7,24%; Năm 2004:7,70%). Để đạt được những thành tựu đó, Việt Nam đã tận dụng và phối hợp mọi nguồn lực trong sự nỗ lực không ngừng của mình. Trong số đó, nguồn vốn là một trong những nguồn lực chính và có ý nghĩa quyết định. 

 Theo báo cáo Tình hình phát triển kinh tế-xã hội của Bộ kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2004, nguồn vốn trong nước thực hiện ước đạt 206,5 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn nước ngoài ước đạt 97,52 nghìn tỷ đồng. Trong đó:
1. Vốn ngân sách nhà nước: 137 nghìn tỷ đồng. 
2. Vốn từ khu vực dân cư và tư nhân trong nước: 69,5 nghìn tỷ đồng. 
3. Vốn ODA: 53,32 nghìn tỷ đồng. 
4. Vốn FDI: 44,2 nghìn tỷ đồng. 
 Như vậy, gần 1/3 trong tổng cơ cấu nguồn vốn nước ta phải được bổ sung từ nguồn vốn ngoài nước để bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn vốn trong nước. Nguồn ODA với sự khác biệt so với các nguồn vốn khác ở tính ưu đãi, đã được thu hút đến 53,32 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 50% trên tổng số vốn nước ngoài vào Việt Nam. Do vậy, vai trò của nguồn vốn ODA ngày càng trở nên vô cùng và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. 

 Cùng hòa nhập vào quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, hội nhập vào kinh tế quốc tế của đất nước, thành phố Hồ Chí Minh đang đặt ra nhiều định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn sắp tới. Nguồn vốn ODA cũng được Thành phố sử dụng để hỗ trợ cho mọi nỗ lực phát triển của mình. Thực tế cho thấy, nhiều chương trình, dự án ODA của Thành phố đã hoàn thành và đang dần phát huy hiệu quả đóng góp cho sự phát triển của Thành phố. Ngoài ra, thành phố Hồ Chí Minh còn là khu vực kinh tế năng động nhất nước và là nơi tiếp nhận phần lớn nguồn vốn ODA của cả nước. Chính vì vậy, việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, hiện nay việc thu hút nguồn vốn ODA vẫn chưa tương xứng với nhu cầu phát triển của xã hội (cụ thể vốn đầu tư phải đạt khoảng 30.000 đến 40.000 tỷ để giữ tốc độ tăng trưởng GDP của Thành phố đạt được 11% đến 12%, trong khi đó nguồn vốn ODA thu hút được chỉ đạt khoảng 5% (150 đến 200 tỷ)), chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng và thực hiện dự án còn chậm/chưa đảm bảo tiến độ dự án đã dẫn đến tình hình giải ngân chậm gây lãng phí rất lớn cho nguồn vốn này, việc sử dụng nguồn vốn ODA chưa hiệu quả... Để khắc phục tình trạng này, Thành phố cần phải có những sự thay đổi và điều chỉnh trong việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA theo hướng có hiệu quả hơn mới có thể mang lại sự phát triển bền vững của nền kinh tế Thành phố, nâng cao khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước vào Thành phố. Với mong muốn góp phần nhỏ bé trong việc tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý và Sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và Giải pháp”. 

 Đề tài được viết bao gồm 71 trang, gồm 10 bảng, 05 biểu đồ, 04 sơ đồ và được chia thành 03 chương: 
 Chương 1: Những lý luận cơ bản về ODA 
Nội dung nghiên cứu chủ yếu của chương này là khái quát về lịch sử hình thành nguồn vốn ODA, các cách phân loại và tình hình chung về nguồn vốn ODA trên thế giới cũng như những bài học kinh nghiệm (cả thành công và thất bại) trong việc sử dụng và quản lý nguồn vốn này, đồng thời qua những kinh nghiệm đó rút ra những bài học thực tiễn cho đề tài. 

Nội dung chủ yếu của chương này là nghiên cứu về thực trạng công tác tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của cả nước nói chung tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói riêng để trên cơ sở đó thấy được những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế (cả khách quan lẫn chủ quan) nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp cho việc nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh 

 Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh 
Nội dung của chương này là đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh từ những phân tích về tình hình tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ở Chương 2 và những bài học kinh nghiệm đã rút ra từ Chương 1. 

Link tải luận văn:

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

[Free download] Thâm hụt ngân sách Nhà nước ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Thâm hụt ngân sách Nhà nước ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp     




 Như chúng ta điều biết, thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà mọi quốc gia trên thế giới đều gặp phải. Ngay cả một cường quốc kinh tế như Mỹ cũng phải đau đầu và vật lộn với vấn đề này, và tất nhiên Việt Nam cũng không ngoại lệ. Việc xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới…, việc tìm ra giải pháp để điều chỉnh thâm hụt ngân sách ở các quốc gia trên thế giới nói chung và ở tại Việt Nam nói riêng là hết sức cấp bách và cần thiết. Ở nước ta, mức độ thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng và ngày càng tác động tiêu cực tới đời sống nhân dân cũng như tới toàn bộ nền kinh tế. Đây chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, gia tăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ.

 Vậy thâm hụt ngân sách là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách diễn ra ở Việt Nam trong các năm qua như thế nào? Giải pháp nào để xử lý thâm hụt NSNN, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? Bài tiểu luận này với đề tài “Thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” là quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra đáp án cho những câu hỏi trên.

 Bài tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương I: KHÁI NIỆM THÂM HỤT NGÂN SÁCH

[Free download] Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính tại công ty vận tải ô tô số 3

Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính tại công ty vận tải ô tô số 3


 Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song trong những yếu tố đó phải kể đến yếu tố cực kỳ quan trọng đó là vấn đề quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý tài chính doanh nghiệp có vai trò hết sức to lớn đối với mỗi doanh nghiệp, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng thấy được vai trò của nó. Một doanh nghiệp quản lý tài chính không tốt sẽ dẫn đến rất nhiều nguy cơ đối với doanh nghiệp chẳng hạn như sử dụng vốn không hợp lý gây thiệt hại cho doanh nghiệp, huy động vốn không phù hợp với tình hình doanh nghiệp làm cho hiệu quả sử dụng vốn bị giảm sút, nếu quản lý tài chính không tốt là nguy cơ đi đến phá sản doanh nghiệp … 

                           luan van Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính tại công ty vận tải ô tô số 3

 Trước đây trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung thì các doanh nghiệp chỉ việc làm theo kế hoạch của Nhà nước, họ không cần quan tâm đến kết quả kinh doanh, vốn do Nhà nước cấp, nợ do Nhà nước đứng ra chịu, nếu có lợi nhuận cao thì họ cũng nộp cho Nhà nước mà thua lỗ thì Nhà nước lại bù. Chính vì thế mà trong thời kỳ này việc quản lý tài chính trong các DNNN là không được chú trọng nhiều. Nhưng sau khi đổi mới kinh tế thì các DNNN đã phải thích ứng dần với nền kinh tế thị trường, họ phải tự hạch toán thu chi, Nhà nước không còn can thiệp sâu vào công việc kinh doanh của họ sâu như trước nữa. Đến lúc này thì không một doanh nghiệp nào là không thấy được vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp, đây là hoạt động mà có tác động trực tiếp tới kết quản kinh doanh một cách mạnh mẽ. Các doanh nghiệp đang dần đổi mới trong quản lý tài chính doanh nghiệp để đáp ứng với những yêu cầu thay đổi, môi trường kinh doanh, cũng như chính sách mới của Đảng và Nhà nước. Với tình hình chung như vậy thì Công ty vận tải ô tô số 3 cũng đang dần tự hoàn thiện để không ngừng ổn định tài chính và đưa Công ty ngày càng phát triển bền vững hơn. Tuy nhiên việc đổi mới về các vấn đề tài chính trong Công ty còn rất chậm và nhiều hạn chế. 

 Sau thời gian thực tập tại Công ty tôi nhận thấy rất rõ điều này và tôi muốn góp một phần sức lực cũng như trí tuệ của mình để cùng với Công ty thúc đẩy quá trình tự đổi mới quản lý tài chính. Trong cơ học chúng ta đã quen thuộc với khái niệm đòn bẩy như là một công cụ để khuếch đại lực nhằm biến một lực nhỏ thành một lực lớn hơn tác động vào vật thể chúng ta cần dịch chuyển. Nhưng trong kinh doanh người ta mượn thuật ngữ “đòn bẩy” để ám chỉ việc sử dụng chi phí cố định (fixed cost), nợ (debt) làm gia tăng khả năng sinh lợi của Công ty. Trong đề tài này chúng ta sẽ khám phá những nguyên lý sử dụng đòn bẩy tài chính (financial leverage) trong quản trị tài chính doanh nghiệp. Với đề tài tốt nghiệp là Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính tại Công ty vận tải ô tô số 3 tôi mong muốn rằng nó sẽ phần nào tác động tốt tới hướng đổi mới của Công ty.

  Trong luận văn tốt nghiệp này của tôi bao gồm những nội dung chính như sau:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp. Nội dung chính trong chương là đề cập đến các vấn đề lý luận chung về đòn bẩy tài chính và hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính. Đây là chương mang tính cơ sở khoa học, nói về mặt lý thuyết của đòn bẩy tài chính trong các doanh nghiệp làm cơ sở lý luận để kết hợp với thực trạng trong chương II từ đó mà có hướng giải quyết và khắc phục hạn chế trong Công ty. 

Chương II: Thực trạng về việc sử dụng đòn bẩy tài chính tại Công ty vận tải ô tô số 3. Đây là chương nói về các thực trạng ở Công ty vận tải ô tô số 3, chương này cung cấp các thông tin thực tế để kết hợp với chương I nhằm đi đến những giải pháp trong chương III. 

Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính tại Công ty vận tải ô tô số 3. Trong chương này là chương kết hợp của hai chương trước, đó là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tế qua phân tích từ đó có thể đưa ra các giải pháp, các kiến nghị để giúp cho Công ty nâng cao được hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính nói riêng và hiệu quả quản lý tài chính nói chung

Link tải luận văn:

[Free download] Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh doanh nghiệp tư nhân Toàn Thịnh 2006 - 2008

Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh doanh nghiệp tư nhân Toàn Thịnh 2006 - 2008


 Trong những năm đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế, nước ta đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng, nhiều năm liên tục đạt mức tăng trưởng cao.Trong đó có vai trò đóng góp không nhỏ của hàng nghìn doanh nghiệp tư nhân trong cả nước với các loại hình kinh doanh khác nhau.

                       luan van Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh doanh nghiệp tư nhân Toàn Thịnh 2006 - 2008

 Trong giai đoạn hòa nhập kinh tế thế giới như hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) thì cạnh tranh gay gắt trên thị trường giữa các Doanh nghiệp là điều không thể tránh khỏi. Gia nhập WTO chúng ta được hưởng nhiều ưu đãi về thuế quan, mở rộng thị trường, các đối tác và khách hàng cũng nhiều hơn…Nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng đối mặt với nhiều thách thức lớn. Chính vì thế phân tích kết quả hoạt động kinh doanh là điều tất yếu giúp Doanh nghiệp nhìn lại và đánh giá đúng thực trạng về tình hình kinh doanh của mình, nhằm hoạch định và tìm ra phương thức hữu hiệu để giúp Doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một chỉ tiêu được nhiều người quan tâm vì nó là căn cứ để các nhà quản trị ra quyết định, các nhà đầu tư hay các nhà cho vay xem xét có nên đầu tư hay cho vay không? Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi. Để đạt được hiệu quả cao nhất trong sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định phương hướng mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện sẵn có về các nguồn nhân tài, vật lực. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả hoạt động kinh doanh. Điều này chỉ thực hiện trên cơ sở của phân tích hoạt động kinh doanh.

 Phân tích hoạt động kinh doanh giúp các nhà doanh nghiệp đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế. Trên cơ sở đó, nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp. Đồng thời, phân tích sâu sắc các nguyên nhân hoàn thành hay không hoàn thành các chỉ tiêu đó trong sự tác động lẫn nhau giữa chúng. Từ đó, đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp để nhằm phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý. Mặt khác, nó còn giúp doanh nghiệp phát huy mọi tiềm năng thị trường, khai thác tối đa những nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. Tài liệu của phân tích kinh doanh còn là những căn cứ quan trọng, phục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra phân tích kinh doanh còn là những căn cứ để phục vụ cho dự đoán, dự báo xu thế phát triển và xu hướng nhu cầu của người tiêu dùng để từ đó phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Chính vì thế nên em quyết định chọn đề tài “Phân tích kết quả kinh doanh của Doanh Nghiệp Tư Nhân Toàn Thịnh” làm đề tài tốt nghiệp.

Nội dung chính:
- CHƯƠNG 1:GIỚI THIỆU
- CHƯƠNG 2:PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNGCỦA DNTN TOÀN THỊNH 
- CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TOÀN THỊNH
- CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
- CHƯƠNG 6: MỘT SỐ GIẢI PHÁP 
- CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Link tải luận văn:

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

[Free download] Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam

 Hoạt động rửa tiền đã và đang trở thành một mối nguy cơ lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Theo ước tính của các chuyên gia Liên Hiệp Quốc và thống kê của Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), hàng năm số tiền được bọn tội phạm tẩy rửa khoảng 400-500 tỷ USD, trong đó khoảng 60-70% là tiền mặt. Một trong những thủ đoạn rửa tiền phổ biến là thông qua hệ thống ngân hàng, điều đó có nghĩa là những quốc gia có hệ thống tài chính ngân hàng sơ khai, lỏng lẻo luôn là điểm đến tiềm năng của bọn tội phạm rửa tiền. Tác hại của việc rửa tiền không chỉ làm mất sự kiểm soát của các chính sách kinh tế, mà còn làm suy yếu khu vực kinh tế tư nhân, lũng đoạn hệ thống tài chính, bóp méo hoạt động ngoại thương, ngăn cản hội nhập quốc tế …. Chính tác hại to lớn của việc rửa tiền như trên, rất nhiều các tổ chức chính phủ và phi chính phủ được phân công thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền như: Ngân Hàng Thế Giới (WB), Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ủy Ban Giám Sát Ngân Hàng Basel, Lực Lượng Đặc Nhiệm Tài Chính (FATF),
v.v… 


                                            

 Ở các nước phát triển như : Mỹ, Anh, Nga, Úc, Pháp, … Luật Phòng, chống rửa tiền đã được hình thành và triển khai một cách hiệu qủa. Tại Việt Nam, vấn đề phòng, chống rửa tiền là một trong những vấn đề tương đối mới mẻ. Trước đây phòng, chống rửa tiền được đề cập đầu tiên thông qua Công Ước Viên (Công ước của Liên Hợp Quốc về chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và chất hướng thần năm 1988) mà Việt Nam tham gia. Và sau này là Nghị Định số 74/2005/NĐ-CP ngày 7 tháng 6 năm 2005 của Chính Phủ về
phòng, chống rửa tiền. Nghị định 74/2005/NĐ-CP được ban hành năm 2005, tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho công tác phòng, chống rửa tiền. Đến nay, nghị định này đã ban hành được hơn 5 năm, tuy nhiên hiệu quả của việc ngăn chặn rửa tiền nói chung và rửa tiền qua hệ thống ngân hàng nói riêng còn rất hạn chế. Trong thời gian tới nếu chúng ta không có những giải pháp đúng đắn, Việt Nam sẽ trở thành điểm đến của tội phạm rửa tiền, mà ngân hàng được xem như là công cụ để thực hiện hành vi đó. Vì vậy, vấn đề phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đang được đặt ra như một đòi hỏi bức xúc trong công tác quản lý hiện nay. Đó chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình.


Kết cấu của luận văn. 
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn trình bày theo 3 chương: 
Chương 3: Các giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam. 

Link tải luận văn:

[Free download] Phân tích vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay

Phân tích vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay


 Cho tới nay, chưa xác định rõ ràng vùng lãnh thổ nào trên trái đất khai sinh ra thuế, song một điều không thể phủ nhận là Thuế gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước.Thời nguyên thủy, con người liên kết với nhau một cách tự phát để chung sống. Sản phẩm do mỗi cá nhân làm ra chỉ vừa đủ thậm chí còn thiếu so với nhu cầu tối thiểu của con người. Trong quá trình sống và lao động, con người đã tích lũy được kinh nghiệm, cải tiến công cụ lao động, một số người đã bắt đầu tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết cho cuộc sống bình thường, rồi trở lên dư thừa và giàu có. Họ thoát ly dần lao động và mướn người làm thay. Họ trở lên có thế lực và được nhiều người kính nể, cử làm đại diện cho bộ lạc – thị tộc. Dần dần họ nắm quyền lực và cai trị bộ lạc. Những “gia đình” danh giá và giàu có này tập hợp nhau lại bên ngoài thị tộc của họ, thành một giai cấp riêng và đặc quyền. Thực tế, nhóm người này trở thành người đứng đầu “chính quyền” công cộng, cuối cùng cũng phát triển thành Nhà nước. 

 Ở khía cạnh phân công lao động xã hội, Nhà nước là một tổ chức bộ máy với nhiều hệ thống cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau để tổ chức điều hành, cai quản xã hội. Những người tham gia bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương là những người không tham gia trực tiếp sản xuất. Phải có nguồn tài chính để nuôi bộ máy quản lý công việc của Nhà nước. Phải có nguồn tài chính để chi tiêu cho những công việc thuộc chức năng Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước càng lớn về quy mô và phạm vi chi tiêu.


                        luan van Phân tích vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay

 Nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên chỉ có thể “lấy” từ việc động viên đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tầng lớp dân cư trong xã hội trực tiếp lao động ra. Từ trước đến nay, các Nhà nước thường có ba cách để động viên một phần thu nhập xã hội cho nguồn ngân sách Nhà nước: quyên góp, vay và dùng quyền lực để buộc dân phải đóng góp. Hai hình thức đầu phụ thuộc vào tính tự nguyện và tự giác của dân chúng, riêng hình thức dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước – đó là Thuế. 


 Như vậy, thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước. Vậy thuế là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu và đầu tiên là nhằm đảm bảo nguồn thu tài chính phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. Cơ sở quan trọng khác cho sự ra đời của thuế là thu nhập. Nếu của cải làm ra chỉ đủ nuôi sống bản thân người lao động thì không có gì để đóng góp cho Nhà nước. Sự hình thành thu nhập trong xã hội là cơ sở vật chất tạo khả năng cho nguồn động viên về thuế. Có thu nhập thì người dân mới có thể đóng góp cho Nhà nước và ngược lại. 


 Vậy thuế xuất hiện trong xã hội loài người với hai điều kiện cần và đủ - đó là sự xuất hiện của Nhà nước và sự xuất hiện thu nhập xã hội.
Nội dung chính:
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
II. SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THUẾ Ở VIỆT NAM
III. PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA THUẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ LIÊN HỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


Link tải luận văn:


- Link 1 [Mediafire]: Phân tích vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay

- Link dự phòng [Fshare]: Phân tích vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

[Free download] Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Quân đội - MB

 Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Quân đội - MB

Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là điều không thể tránh khỏi. Trước những diễn biến phức tạp của thị trường tài chính - tiền tệ nước ta thời gian gần đây, nhiều chuyên gia tài chính đã dự đoán, năm 2008 sẽ là một năm kinh doanh không mấy dễ dàng với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) của Việt Nam và điều đó sẽ càng khắc nghiệt với những ngân hàng mới thành lập… Vì vậy các ngân hàng cần phải có chiến lược kinh doanh vững chắc, an toàn và hiệu quả, có sự kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế các rủi ro thông qua công tác quản trị rủi ro ngân hàng.

                  luan van  Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Quân đội


 Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có rất nhiều loại rủi ro xảy ra như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, … nhưng rủi ro đặc thù và khó phòng ngừa nhất của ngân hàng là rủi ro lãi suất. Khi lãi suất thị trường biến động gây ảnh hưởng đến nguồn thu từ danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán cũng như chi phí trả lãi đối với các khoản tiền gửi, các nguồn vay của ngân hàng. Những tác động này có thể làm giảm chi phí nguồn vốn, giảm thu nhập từ tài sản và hạ thấp vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Điều này làm thay đổi tiêu cực đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng. Do vậy, công tác quản trị rủi ro ở ngân hàng là rất cần thiết nhằm giúp các ngân hàng hạn chế được các thiệt hại khi lãi suất thị trường biến động.

 Hiện nay công tác nghiên cứu và quản trị rủi ro đã bắt đầu được các ngân hàng thương mại quan tâm tuy nhiên trình độ cũng như nghiệp vụ phòng chống rủi ro lãi suất của các ngân hàng vẫn còn có nhiều hạn chế. Chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài: “ Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội”. Đây là đề tài mang tính thực tiễn cao khi Việt Nam đã là thành viên thứ 150 tổ chức thương mại thế giới WTO, việc quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Quân đội sẽ xác định được giá trị của ngân hàng trong hệ thống. Tuy nhiên, do kiến thức chưa đầy đủ và thời gian có hạn nên bài viết của em chắc còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, các cán bộ ngân hàng cùng các bạn sinh viên để bài làm thêm phần hoàn thiện.
Em xin chân thành cám ơn cô giáo: Thạc sĩ Đinh Lê Hải Hà đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này, càm ơn cán bộ ngân hàng và ban lãnh đạo của ngân hàng TMCP Quân đội đã tạo điều kiện cho em tìm hiểu với thực tế để bài viết của em mang tính thực tiễn cao hơn.

 Nội dung nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Lý thuyết chung về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất.
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất ở Ngân hàng TMCP Quân đội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro lãi suất ở Ngân hàng TMCP Quân đội.
Link tải luận văn:




[Free download] Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ

Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ 

 
 Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.

 Phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết phán đoán dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ, và đầu tư phù hợp.


luan van Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ
 
 Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang dần hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới. Theo đó, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp cũng được mở rộng, song sự cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Điều này, vừa tạo ra các cơ hội kinh doanh đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ tiềm tàng đe doạ sự phát triển của các doanh nghiệp.Vì vậy, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thương trường cần phải nhanh chóng đổi mới. đổi mới về quản lý tài chính là một trong những vẫn đề hàng đầu và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của doanh nghiệp. Bởi lẽ, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cần phải nhanh chóng nắm bắt nhu cầu của thị trường, xác định đúng nhu cầu về vốn, tìm kiếm huy động vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời, sử dụng hợp lý, đạt hiệu quả cao.
 Doanh nghiệp cần phải thay đổi cấu trúc tài chính cho phù hợp với chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra để tạo ra một sự nhất quán trong điều hành, quản lý doanh nghiệp. Từ đó họ có thể ra những quyết định đúng đắn cho việc đầu tư và các hoạt động liên quan đến doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện nâng cao tình hình tài chính của doanh ngiệp. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phân tích tài chính của doanh nghiệp.

 Nhận thức được tầm quan trọng của tài chính và phân tích tài chính trong doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ, em đã lựa chọn đề tài: Phân tích tình hình tài chính và các biện pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ.

 Đề tài nghiên cứu bao gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phần 2: Phân tích thực trạng tài chính của Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ.
Phần 3: Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ.


Link tải luận văn:
- Link 1 [Mediafire]:Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ
- Link dự phòng [Fshare]:Phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Thép Anh Vũ

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

[Free download] Mô hình thị trường tiền tệ của các nước trên thế giới, mô hình thị trường tiền tệ của Việt Nam hiện tại và tương lai

Mô hình thị trường tiền tệ của các nước trên thế giới, mô hình thị trường tiền tệ của Việt Nam hiện tại và tương lai

“Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ hạn dưới một năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế” (Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng, 2006: 488). Ở nước ta, thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ còn ít nên luật pháp cho phép các giấy tờ có giá dài hạn được phép giao dịch trên thị trường tiền tệ. Theo Điều 9, luật sửa đổi một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước (2003) Định nghĩa: “Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác”.

                                luan van  Mô hình thị trường tiền tệ của các nước trên thế giới, mô hình thị trường tiền tệ của Việt Nam hiện tại và tương lai

Thị trường tiền tệ được phân loại căn cứ vào cách thức tổ chức hoặc loại công cụ. 
 1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức: 
 Thị trường tiền tệ bao gồm: 
Thị trường tiền tệ cổ điển: là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng (TCTD) đặt dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương (NHTW). Hàng ngày, tại đây hình thành lãi suất chỉ đạo thị trường tiền tệ, như: lãi suất LIBOR trên thị trường tiền tệ London (London Inter Banking Offered rate), lãi suất PIBOR trên thị trường tiền tệ Paris (Paris Inter Banking Offered rate), SIBOR (thị trường tiền tệ Singapore)… 
Thị trường tiền tệ mới: Đây là thị trường các trái phiếu ngắn hạn, cơ cấu của nó gồm 2 cấp: 
 Thị trường tiền tệ sơ cấp: là thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn lần đầu. 
 Thị trường tiền tệ thứ cấp: là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các trái phiếu đã phát hành ở thị trường sơ cấp. 
 Thị trường mở (Openmarket operation): là thị trường mua bán các loại chứng khoán nhà nước ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ,... nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Tức thông qua thị trường mở, NHTW có thể làm cho “tiền dự trữ” của các ngân hàng thương mại (viết tắt NHTM) tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động Đến khả năng cung cấp tín dụng của NHTM làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền tệ của nền kinh tế. 

 2. Phân loại theo đối tượng tham gia: 
 Thị trường tiền tệ bao gồm: 
- Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM (hay thị trường liên ngân hàng – Interbank): Thị trường này dưới sự Điều hành của NHTW nhằm mục đích điều tiết vốn trong hệ thống NHTM đồng thời tạo Điều kiện cho NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng. 
- Thị trường các công cụ nợ ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, các khế ước cho vay, … bao gồm cả thị trường phát hành và thị trường lưu thông, thị trường này biểu hiện cho sự phát triển thị trường tiền tệ. 
- Thị trường hối đoái: là thị trường giao dịch các loại ngọai tệ và các phương tiện thanh tóan có giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu thị trường tiền tệ. Thị trường ngọai hối mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động của nó đáp ứng những nhu cầu về thương mại, đầu tư ngắn hạn trên bình diện quốc tế, đặc biệt là tạo điều kiện can thiệp của NHTW nhằm đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc 
gia. 
- Công cụ hoạt động thị trường hối đoái, gồm: hợp đồng giao ngay (Spot), hợp đồng hoán đổi (Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng quyền chọn (Option)…. nhờ đó đáp ứng được phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho các đơn vị, tổ chức và làm cho thị trường ngoại hối trở nên nhộn nhịp hơn. 

Link tải luận văn:

[Free download] Quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam

Quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam


 Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu cột mốc thay đổi quan trọng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là đối với nền kinh tế. Những chính sách kinh tế mở cửa, hướng đến hội nhập với khu vực và thế giới đã và đang mang đến cho kinh tế đất nước nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng nhiều cơ hội phát triển về cả chất và lượng, quy mô và loại hình.


                         luan van Quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam

 Tuy nhiên, cơ hội luôn luôn đi kèm với những thử thách. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra gần đây đã gây tác động không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương. Thiệt hại to lớn của các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không kể đến rủi ro về tỷ giá hối đoái. Rủi ro tỷ giá hối đoái đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động hay thậm chí sự tồn tại của các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu trong nước, đa số với quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh và quản lý theo những phương thức truyền thống đa phần không còn phù hợp với nền kinh tế hội nhập mà chúng ta đang theo đuổi.

 Vì những lý do trên, nhóm tác giả xin chọn đề tài: “Quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam” để có những nghiên cứu cụ thể nhất về thực trạng và những hạn chế trong việc quản lý rủi ro tỷ giá tại các doanh nghiệp, từ đó có những biện pháp phù hợp nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam để hạn chế tổn thất xảy ra do rủi ro này.


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TỶ GIÁ
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TỶ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TỶ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

[Free download] Cầu về tiền và hệ quả đối với chính sách tiền tệ ở Việt Nam

Cầu về tiền và hệ quả đối với chính sách tiền tệ ở Việt Nam


 Cầu tiền đóng một vai trò quan trọng trong phân tích các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong việc lựa chọn hành động của chính sách tiền tệ. Cầu tiền ổn định sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách tiền tệ có thể dự báo được nhu cầu tiền của nền kinh tế và đưa ra những quyết định liên quan đến cung ứng tiền đáp ứng được nhu cầu nhưng không gây ra những bất ổn cho thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung. Đó chính điều kiện tiên quyết cho một chính sách tiền tệ hiệu quả. 

                   luan van Cầu về tiền và hệ quả đối với chính sách tiền tệ ở Việt Nam

 Chính vì sự quan trọng của cầu tiền trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ mà trong vài thập kỷ qua, các nghiên cứu về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm về cầu tiền đã được thực hiện khá nhiều trên thế giới. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện ở các nước phát triển, đặc biệt là ở Anh, Mỹ và rất ít nghiên cứu được thực hiện ở các nước đang phát triển. Những năm gần đây trước tác động của chế độ tỉ giá thả nổi, xu hướng toàn cầu hóa thị trường vốn, tự do hóa khu vực tài chính, cải cách các thị trường nội địa ở các nước đang phát triển ngày càng tăng, thì việc nghiên cứu cầu tiền ngày càng được các Ngân hàng Trung ương, các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn và thực sự đã trở thành vấn đề thời sự quốc gia. 

 Ở Việt Nam từ năm 1986, sau khi Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đến nay, nền kinh tế đã từng bước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Trong tiến trình đó, hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng cũng dần được cải cách theo nguyên tắc thị trường. Khởi đầu cho công cuộc cải cách đó được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CẦU TIỀN VÀ HỆ QUẢ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 3. NGHIÊN CỨU CẦU TIỀN VÀ ƯỚC LƯỢNG HÀM CẦU TIỀN Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 4. ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CẦU TIỀN TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM

Link tải luận văn:

Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

[Free download] Bàn về chế độ hạch toán tỷ giá hối đoái ngoại tệ

Bàn về chế độ hạch toán tỷ giá hối đoái ngoại tệ


Tỷ giá hối đoái ngoại tệ là một trong những vấn đề rất được quan tâm, đặc biệt là khi nền kinh tế nước ta đang hoà nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới và tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế.

          luan van Bàn về chế độ hạch toán tỷ giá hối đoái ngoại tệ

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các giao dịch kinh tế của doanh nghiệp diễn ra với rất nhiều đối tượng khác nhau, đơn vị tiền tệ được sử dụng rất đa dạng. Trong kế toán, doanh nghiệp lại sử dụng thống nhất một đơn vị tiền tệ để hạch toán để đảm bảo tính nhất quán và so sánh được của các số liệu kế toán.Tuy nhiên các doanh nghiệp lại thực hiện các giao dịch kinh tế bằng rất nhiều đồng tiền khác nhau. Chính vì vậy việc ban hành chuẩn mực kế toán và các văn bản hướng dẫn quy định thống nhất phương pháp hạch toán tỷ giá hối đoái ngoại tệ là kịp thời và cần thiết.
Nhận thức được tầm quan trọng của hạch toán tỷ giá hối đoái ngoại tệ, em mạnh dạn chọn đề tài: “ Bàn về chế độ hạch toán tỷ giá hối đoái ngoạitệ  với kết cấu đề tài gồm 2 phần chính như sau:
Phần 1: Cơ sở lý luận chung về hạch toán tỷ giá hối đoái ngoại tệ
     Phần 2: Các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ hạch toán tỷ giá hối đoái ngoại tệ

Link tải luận văn:





Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

[Free download] Nội dung huy động vốn của ngân hàng thương mại

Nội dung huy động vốn của ngân hàng thương mại


Trong thời đại hiện nay, việc kinh doanh, dịch vụ tiền tệ không còn là độc quyền của các ngân hàng. Bên cạnh ngân hàng và cùng với ngân hàng kinh doanh và làm dịch vụ tiền tệ còn có rất nhiều tổ chức có tên rất khác nhau như các công ty bảo hiểm các loại, hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các quỹ hưu trí, các quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng. Các tổ chức này có tên gọi chung là các tổ chức tài chính. Cũng như các ngân hàng, các tổ chức này ra đời nhằm cung cấp lợi nhuận cho những người cho họ vay (gửi tiền), giúp những người vay vốn kinh doanh thu lợi nhuận, làm giàu cho bản thân họ và góp phần làm giàu cho đất nước. Nhưng bất cứ nước nào trên thế giới, đứng đầu các tổ chức tài chính vẫn là các ngân hàng thương mại – tổ chức tài chính lớn nhất, quan trọng nhất trong giới kinh doanh.

                       luan van Nội dung huy động vốn của ngân hàng thương mại

  Xét về bản chất ngân hàng thương mại chỉ là một doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường, song nó đặc biệt ở chỗ là doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là tiền tệ vàng bạc, chứng khoán, các loại đá quý. Xét về chức năng, ngân hàng thương mại không trực tiếp tham gia sản xuất và lưu thông hàng hoá như các doanh nghiệp thông thường, nhưng nó góp phần làm phát triển nền kinh tế xã hội. 

 Tìm hiểu về ngân hàng thương mại là một lĩnh vực đòi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu và nghiên cứu một cách khoa học. Với đề tài "Nội Dung Huy Động Vốn Của Ngân Hàng Thương Mại" em chỉ xin trình bày sơ lược những nội dung chính trong phạm vi hiểu biết có hạn của mình. Bài viết của em không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong sự góp ý của các thầy, các cô để bài viết của em hoàn chỉnh hơn.

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
II. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM.

Link tải luận văn:

[Free download] Nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng và sơ đồ quy trình thanh toán

 Nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng và sơ đồ quy trình thanh toán


 Thanh toán giữa các ngân hàng là thanh toán qua lại giữa các ngân hàng nhằm hoàn thành quá trình thanh toán tiền giữa các doanh nghiệp, cá nhân với nhau mà họ không cùng mở tài khoản tại một ngân hàng hoặc thanh toán vốn trong nội bộ các hệ thống ngân hàng.

                     luan van  Nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng và sơ đồ quy trình thanh toán

 Hiện nay tại nước ta thanh toán giữa các ngân hàng bao gồm các phương thức sau:
- Thanh toán liên hàng trong cùng hệ thống.
- Thanh toán bù trừ khác hệ thống.
- Thanh toán từng lần qua tài khoản tiền gửi tai ngân hàng nhà nước.
- Ủy nhiệm thu hộ, chi hộ.
- Thanh toán qua tiền gửi tại ngân hàng khác.

Link tải luận văn:

[Free download] Hoạt động tín dụng trong các Ngân Hàng Thương Mại - Nhìn từ góc đọ rủi ro tín dụng - Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động tín dụng trong các Ngân Hàng Thương Mại - Nhìn từ góc đọ rủi ro tín dụng Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam hiện nay


Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN, lại nằm trong vùng kinh tế CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG một trong những khu vực phát triển kinh tế cao trên thế giới. 

Việt Nam đã và đang cố gắng từng bước để bắt kịp với sự phát triển của khu vực cũng như trên Thế Giới. Tuy nhiên quá trình đó mới toàn diện nền kinh tế đất nước đòi hỏi phải có sự đổi mới về hoạt động tín dụng Ngân Hàng cho phù hợp vói đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Mục tiêu của các NHTM là lợi nhuận tuy vậy nó không hoạt động thuần tuý là đen lại lơi nhuận cho Ngân Hàng mà còn hoạt động với vai trò quan trọng là tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển . 

                  luan van  Hoạt động tín dụng trong các Ngân Hàng Thương Mại - Nhìn từ góc đọ rủi ro tín dụng - Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động tín dụng của Ngân Hàng mà biểu hiện cụ thể của nó là công tác huy động vốn và sử dụng vốn đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế bởi nó có mối quan hệ mật thiết với Viêc huy động vốn không chỉ làm cho mọi hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng mà nó còn đóng vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển qua việc sử dụng vốn đã huy động được. 

Do đó viêc phân tích đánh giá rủi ro trong hoạt động tín dụng Ngân Hàng là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, qoa đó tìm ra những tồn tại để khắc phục những tồn tại đó . Làm cho hoạt động của Ngân Hàng có hiệu quả hơn, thúc đẩy sự phát triển của tất cả nền kinh tế. Từ nhận thức trên , em chọn đề tài nghiên cứu với tiêu đề : "Hoạt Động Tín Dụng trong các Ngân Hàng Thương Mại - Nhìn từ góc đọ rủi ro Tín Dụng - Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam hiện nay". 

I. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
II. THỰC TRẠNG VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN VỂ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Link tải luận văn:










Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

[Free download] Thực trạng hoạt động thanh toán thẻ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực trạng hoạt động thanh toán thẻ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam


 Dấu hiệu của phương thức tín dụng tiêu dùng với phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện lần đầu tại Mỹ vào năm 1920 dưới cái tên gọi tạm thời là “đĩa mua hàng” (shopper’s plate). Trên thực tế, đây là một hình thức sơ khai của thẻ mua hàng (store card) hiện đại. Người chủ sở hữu của loại đĩa này có thể mua hàng tại cửa hiệu phát hành ra chúng và hàng tháng họ phải hoàn trả đầy đủ tiền hàng cho chủ cửa hiệu. Thực chất các cửa hàng phát hành ra đĩa này đã đồng thời cung cấp cho người mua hàng một hình thức tín dụng cơ bản, đó là “mua hàng trước và chi trả sau” (buy now, pay later).

 Tuy nhiên, thẻ ngân hàng được coi là chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1949 tại Mỹ xuất phát từ một trường hợp rất ngẫu nhiên. Một doanh nhân tên là Frank Mc Namara trong một bữa ăn tối tại nhà hàng, chợt nhận ra mình không mang theo tiền để thanh toán, ông ta đành gọi điện về nhà nhắn người mang tiền đến giúp. Chính trong tình huống đó, ông chợt nảy ra ý tưởng về một loại phương tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt có thể sử dụng ở nhiều nơi. Năm 1950, chiếc thẻ nhựa đầu tiên bắt đầu ra đời với tên gọi là thẻ tín dụng Diners Club. Với lệ phí hàng năm là 5 USD, những người mang thẻ Diners Club có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng nằm trong hoặc ven thành phố New York. Ngược lại, các nhà bán lẻ trong hệ thống Diners Club bị tính chiết khấu 5% trên mỗi món hàng bán ra. 

                                  
                             

 Xuất phát từ một ý tưởng, nhưng những tiện ích mà những chiếc thẻ đầu tiên mang lại đã nhanh chóng chinh phục được đông đảo khách hàng. Các khách hàng - chủ thẻ rất hài lòng về sự tiện lợi khi sử dụng thẻ cũng như các khoản vay từ thẻ. Người tiêu dùng khi sử hữu phương tiện thanh toán này có thể mua hàng hoá, dịch vụ trước mà không phải trả tiền mặt ngay khi đó. Mặc dù hàng tháng họ phải hoàn trả toàn bộ các chi tiêu nhưng họ đã có được một khoản ứng trước không phải trả lãi trong vòng một tháng.

 Về phía các cơ sở cung ứng hàng hoá dịch vụ, phương thức thanh toán này cũng hấp dẫn họ. Họ nhận thấy rằng mặc dù bị tính chiết khấu trên mỗi món hàng bán ra nhưng bù lại các khách hàng - chủ thẻ dường như thoải mái hơn trong các quyết định mua hàng hoá dịch vụ và thực sự đã mua nhiều hàng hoá dịch vụ hơn khi dùng tiền mặt. Chấp nhận thẻ lại an toàn hơn nhiều so với dùng séc. Thêm vào đó, việc sử dụng hệ thống tín dụng của các tổ chức ngân hàng sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí hơn so với việc thiết lập một mạng lưới tín dụng cục bộ.

 Hình thức thanh toán mới không chỉ dừng lại ở việc mang lại tiện ích cho người tiêu dùng, hơn thế nữa nó hứa hẹn một ngành kinh doanh mới với khả năng sinh lãi hàng tỷ đô la mà ngay cả người phát mình ra nó, Frank Mc Namara, cũng không tiên liệu được. Đến năm 1951, hơn 1 triệu USD được tính nợ và số lượng thẻ ngày càng tăng lên, công ty phát hành thẻ Diners Club nhanh chóng thu được lãi. Một cuộc cách mạng về thẻ diễn ra sau đó đã nhanh chóng đưa thẻ trở thành phương tiện thanh toán phổ dụng toàn cầu. Tiếp nối thành công của thẻ tín dụng Diners Club, năm 1955 hàng loạt thẻ như Trip Change, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club… nối tiếp ra đời. Phần lớn các thẻ này trước hết được phát hành nhằm phục vụ giới doanh nhân, nhưng sau đó ngân hàng đã nhận thấy rằng giới bình dân mới là đối tượng chủ yếu sử dụng thẻ trong tương lai. Vào cuối những năm 1950, một số ngân hàng tại Mỹ đã tiến hành cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng theo cơ chế tín dụng tuần hoàn.Với dịch vụ này, các chủ thẻ có thể duy trì số dư có trên tài khoản vay bằng một hạn mức tín dụng nếu họ hoàn thành trách nhiệm thanh toán hàng kỳ theo quy định của Ngân hàng.

 Tuy vậy, trong giai đoạn này, hệ thống tín dụng thẻ vẫn chỉ dừng lại ở mối quan hệ tương đối đơn giản được xác lập giữa nhà phát hành thẻ, cơ sở chấp nhận thẻ và chủ thẻ.

 Năm 1960, Bank of America giới thiệu sẩn phẩm thẻ đầu tiên của mình - BANKAMERICARD. Thẻ BANKAMERICARD phát triển rộng khắp và trong những năm tiếp theo, ngày càng nhiều các tổ chức tài chính ngân hàng trở thành thành viên của BANKAMERICARD. Những thành công của BANKAMERICARD đã thúc đẩy các nhà phát triển thẻ khác trên khắp nước Mỹ bắt đầu tìm kiếm phương thức cạnh tranh với loại thẻ này.

 Đến năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ thành lập Interbank - một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ. Ngay sau đó, năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên của họ từ California Bank Card Association thành Western State Bank Card Association (WSBA), WSBA đã liên kết với Interbank để phát hành thẻ MASTERCHARGE. Tổ chức WSBA cho phép Interbank sử dụng tên và biểu tượng MASTERCHARGE của mình. Vào cuối những năm 60, một số lớn các tổ chức tài chính ngân hàng trở thành thành viên của MASTERCHARGE - đối thủ cạnh tranh của BANKAMERICARD.

 Những năm sau đó, tất cả các tổ chức tài chính ngân hàng đã hoặc đang quan tâm đến việc phát hành thẻ ở Mỹ đều trở thành thành viên của BANKAMERICARD hoặc MASTERCHARGE. Các Hiệp hội ngân hàng và các thành viên của họ cùng chia sẻ chi phí hệ thống hoạt động thẻ, làm cho ngay cả các tổ chức tài chính ngân hàng rất nhỏ cũng có thể tham gia vào hệ thống này. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là các nhà phát hành thẻ chỉ tìm kiếm được lợi nhuận cao nếu họ biết cách phát triển rộng khắp mạng lưới khách hàng, chủ thẻ và cở sở chấp nhận thẻ. Hệ thống này mang lại lợi nhuận cho tất cả các thành viên và thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ về mạng lưới chủ thẻ, cơ sở chấp nhận thẻ cũng như doanh số bán hàng bằng thẻ.

 Sức ép về việc phải tăng mạnh số lượng chủ thẻ làm cho nhiều tổ chức tài chính bắt đầu phát hành thẻ một cách bừa bãi, thậm chỉ bỏ qua cả quá trình xét duyệt đơn xin phát hành và thẩm định khả năng tài chính của khách hàng. Một số lượng lớn thẻ đã bị mất trên đường gửi từ nhà phát hành thẻ đến khách hàng mà không được quan tâm. Bên cạnh đó có nhiều chủ thẻ mới chưa có kinh nghiệm về sử dụng thẻ, họ mau chóng tiêu vượt quá hạn mức tín dụng được cấp và thường xuyên gặp khó khăn khi đến hạn thanh toán các khoản vay. Vì những lý do đó, nhiều nhà phát hành rơi vào tình trạng thất thoát về tín dụng và gánh chịu nhiều rủi ro. Khó khăn lại càng chồng chất thêm cho các nhà phát hành thẻ bởi sự chậm trễ trong thanh toán bù trừ giữa các thành viên trong Hiệp hội. Số lượng thẻ bị mất cắp, bị làm giả mạo tăng nhanh càng làm nghiêm trọng hơn mức độ tổn thất cho các nhà phát hành thẻ. Chính vì vậy, một hệ thống quản lý thẻ hiệu quả và được tiêu chuẩn hoá để xử lý các chứng từ giao dịch và các hoạt động thẻ là vô cùng cần thiết cho các nhà phát hành cũng như thanh toán thẻ.

 Interbank (MASTERCHARGE) và Bank of America
(BANKAMERICARD) đã tạo lập nên một hệ thống các quy tắc tiêu chuẩn. Hai tổ chức này cũng đã xây dựng nên các hệ thống xử lý toàn cầu được tiêu chuẩn hoá với chức năng xử lý các giao dịch thẻ, thanh toán và trao đổi thông tin cũng như đưa ra các nguyên tắc tra soát, khiếu kiện để giải quyết tranh chấp giữa các thành viên. Với thành tựu này, Interbank và Bank of America đã trở thành người đi đầu trong lĩnh vực thanh toán và phát hành thẻ trên thế giới.

 Năm 1977, tổ chức thẻ BANKAMERICARD đổi tên thành VISA USA và sau đó là tổ chức thẻ quốc tế VISA. Năm 1979, tổ chức thẻ MASTERCHARGE đổi tên thành MASTERCARD. Các thành viên của hai tổ chức thẻ quốc tế này cũng như bản thân cả hai tổ chức bắt đầu mua các chương trình phần mềm cũng như các thiết bị phần cứng phát hành, thanh toán và quản lý thẻ của các công ty bên ngoài với mục đích tiết kiệm chi phí cho các thành viên và tạo điệu kiện cho ngày càng nhiều tổ chức tài chính ngân hàng có thể tham gia hệ thống.

 Với những thành công vang dội ở nước Mỹ, thẻ ngân hàng đã nhanh chóng lan rộng sang các nước và khu vực khác và được tiếp nhận nồng nhiệt. Vào năm 1960, chiếc thẻ nhựa Diners Club đầu tiên có mặt tại Nhật đã mở đầu cho hoạt động thanh toán thẻ tai Châu Á. Vào năm 1961, ngân hàng Sanwa tại Nhật Bản lần đầu tiên cho ra đời thẻ JCB với mục tiêu chủ yếu hướng vào thị trường giải trí và du lịch. Chiếc thẻ nhựa đầu tiên do ngân hàng Barclay Bank phát hành trên cơ sở thẻ VISA năm 1966 tại Anh cũng đã mở ra một thời kỳ sôi động tại lục địa Châu Âu.

 Thẻ ngân hàng lần đầu tiên được chấp nhận tại Việt Nam vào năm 1990, khi Vietcombank ký hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa với ngân hàng Pháp BFCE và đã mở đầu cho phương thức thanh toán mới này tại Việt Nam.

Ngày nay thẻ ngân hàng đã có mặt trên khắp thế giới với các hình thức, chủng loại đa dạng, phong phú đang ngày càng đáp ứng đầy đủ những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng. Cùng với sự phát triển của hai tổ chức thẻ quốc tế Visa và Mastercard, trên thế giới còn có hàng loạt tổ chức thẻ khác mang tính quốc tế và khu vực ra đời như: JCB Card, American Express Card, Airplus, Maestro Eurocard, Visioncard… Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ. Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu khoa học của thế giới về khoa học kỹ thuật, nhất là về công nghệ tin học, hệ thống thẻ ngày càng hoàn thiện. Không chỉ dừng lại ở mối quan hệ đơn giản như thời kỳ trước, hệ thống tín dụng thẻ ngày nay bao gồm cả các tổ chức thẻ quốc tế, các tổ chức tài chính ngân hàng, các công ty cung ứng thiết bị và giải pháp kỹ thuật, các công ty viễn thông quốc tế… Cùng với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển từng ngày, các tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, cấp phép, thanh toán, tra soát, hoàn trả, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thẻ đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu. Đây là một thành công đáng kể đối với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển.

CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẺ VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

 

© 2014 Tải tài liệu, luận văn Doko.Vn miễn phí | Download tài liệu, luận văn Doko.Vn miễn phí. All rights resevered. Designed by Templateism

Back To Top